Tài liệu thuyết minh về Văn Miếu Quốc Tử Giám cho HDV mới

Xin chào tất cả các bạn, chào mừng đến với Di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám. Là một travel blogger, tôi có thể nói rằng đây không chỉ là một trường đại học đầu tiên của Việt Nam mà còn là biểu tượng văn hoá lịch sử của dải đất hình chữ S.

Di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám là một quần thể kiến trúc độc đáo. Với lối kiến trúc cổ xưa, ngôi trường này được chia thành nhiều khu vực, bao gồm: Đại Bái, Trung Môn, Thượng Điện, Giảng Đường,... Mỗi khu vực này đều mang một vẻ đẹp riêng, kiến tạo nên một bức tranh hài hòa, thanh bình.

Nơi đây không chỉ là một trường đại học, mà còn là một nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và văn hóa. Những bức đại tự, bia đá, đồ gốm sứ,... tất cả đều mang một giá trị nghệ thuật cao, khiến cho Văn Miếu Quốc Tử Giám trở thành một bảo tàng lịch sử sống động.

Và khi đến đây, bạn cũng đừng quên trải nghiệm việc lễ Quan Văn Trạng Nguyên xưa. Đây được xem là một trong những nét văn hóa độc đáo của Văn Miếu Quốc Tử Giám. Với hy vọng sẽ đem lại cho mọi người sự may mắn và thành công trong học tập và công việc.

Hãy cùng Lazi voyage tìm hiểu về Văn miếu Quốc tử giám qua cuốn tài liệu này nhé.

  1. Không nói to và nô đùa khi tham quan bên trong: Tiếng ồn có thể gây khó chịu cho những người khác đang tham quan và làm ảnh hưởng đến không gian tôn nghiêm của các địa điểm tham quan.
  2. Không vứt rác bừa bãi: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của mỗi người. Khi thấy rác, hãy bỏ vào thùng rác để giữ cho môi trường sạch đẹp.
  3. Không giẫm lên cỏ: Gìn giữ cỏ xanh là cách chúng ta bảo vệ môi trường và tôn trọng cảnh quan của địa điểm tham quan.
  4. Không nên tách đoàn: Việc tách đoàn có thể gây nguy hiểm cho bản thân cũng như gây khó khăn cho việc quản lý đoàn tham quan.
  5. Đặc biệt không nên "xoa" lên đầu các cụ rùa: Đây là hành động không được phép vì có thể gây hại cho các cụ rùa, nguy cơ trực tiếp làm hư hỏng quần thể di tích đã tồn tại cả nghìn năm nay

TỔNG QUAN VỀ KHU VĂN MIẾU

Văn Miếu - Quốc Tử Giám có nguồn gốc từ hai phần riêng biệt. Văn Miếu được xây dựng vào năm 1070, là nơi thờ Văn Tuyên Vương Khổng Tử (551-479 TCN), triết gia lỗi lạc và là tổ sư của đạo Nho. “Miếu” là tên viết tắt của “Tuyên Vương Miếu”, tức là Miếu thờ Vua Tuyên, tước của đức Khải Tử. Ngày nay, mọi người hiểu “Miếu” là “Miếu”, từ “Văn” mang nghĩa là “học”, là đẹp của con người.

Ngoài ra, Văn Miếu còn thờ các bậc hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, một nhà giáo có đạo đức và phẩm chất cao quý. Quốc Tử Giám, với "Quốc" là quốc gia, "Tử" là học trò và "Giám" là một cơ quan, là trường học của hoàng gia dành cho các hoàng tử nhà Lý. Sau đó, trường mở rộng dành cho con cái của các quan lại và những học trò giỏi từ khắp nơi trên đất nước, trở thành tiền thân của các trường đại học hiện tại ở Việt Nam.

Văn Miếu được bắt đầu xây từ năm (1070), đời Lý Thánh Tông, năm Thần Vũ thứ hai. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Vào mùa thu tháng 8, tiến hành xây dựng Văn Miếu. Trong đó các công việc chính là:

  • Đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối.
  • Vẽ tượng Thất thập nhị hiền.

Những năm đầu tiên, Văn Miếu được sử dụng để tổ chức cúng tế xin cầu mưa thuận gió hòa cho 4 mùa trên cả nước. Mục đích chính của Văn Miếu là đón hoàng thân, Hoàng thái tử đến đấy học tập. Đến năm (1156), vua Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu, thay đổi mục đích chính của địa điểm này là chỉ thờ riêng Khổng Tử.

KIẾN TRÚC CỦA VĂN MIẾU

Văn Miếu là một khu đất hình chữ nhật rộng khoảng 54000m2, bao quanh bởi một khu tường dài hơn 300m và rộng 700m. Văn Miếu nằm trên đất Hữu Nghiễm, huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội.

Quần thể kiến trúc Văn Miếu được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục bắc nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu văn miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.

 

Toàn bộ kiến trúc văn miếu đều là kiến trúc đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ, loại gạch đặc trưng từ thời Lê có tuổi thọ trên 300 năm tuổi.

5 khu chính của Văn Miếu

Bây giờ chúng ta sẽ cùng nhau lần lượt tham quan từng lớp kiến trúc, bắt đầu với lớp Kiến trúc Hồ Văn.

Hồ Văn xưa kia được gọi là Thái Hồ, diện tích rộng lớn với 12.297m2. Giữa hồ nổi bật với gò Kim Châu, và chính trên gò Kim Châu này, Phán Thuỷ đường đã được dựng lên, trở thành nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của các nho sĩ kinh thành xưa. Tuy hiện tại, Nhà Phán Thuỷ đã không còn nữa, nhưng trên gò Kim Châu vẫn còn tồn tại một tấm bia ghi dấu ấn lịch sử. Tấm bia này được dựng vào dịp tu sửa Văn Miếu và nạo vét Hồ Văn, góp phần lưu giữ những giá trị văn hóa và lịch sử của Hồ Văn xưa kia.

Hồ Văn cũng được biết đến với tên gọi khác là Hồ Giám hay hồ Đường Minh

- Josh

 

Các nhà nghiên cứu ngày nay không chỉ đề cập đến giá trị về cảnh đẹp du ngoạn mà còn nhấn mạnh đến giá trị về triết học tâm linh thể hiện qua lối kiến trúc “thượng gia hạ trì”. Trong đó, yếu tố “thượng gia” đại diện cho sự thanh tao, thoát tục, hướng con người đến những giá trị cao cả, trong khi yếu tố “hạ trì” lại tượng trưng cho sự gần gũi với thiên nhiên, giúp con người tìm kiếm sự cân bằng, an yên trong tâm hồn. sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này tạo nên một không gian linh thiêng, thanh tịnh giúp con người giảm bớt căng thẳng, xua đi muộn phiền, tái tạo năng lượng và tìm về sự tĩnh tại bên trong.

Cổng Tam Quan, cửa chính vào Văn Miếu

 

Chuyến tham quan Văn Miếu sẽ bắt đầu từ cổng Tam quan, khu vực này được đánh dấu bằng Tứ Trụ và hai bên là hai bia Hạ Mã. Trước kia, Tứ Trụ phản chiếu bóng xuống mặt Hồ Văn, nhưng hiện nay, việc phố Quốc Tử Giám ngăn cách Tứ Trụ và Hồ Văn đã che đi tầm nhìn này.

 

Tứ Trụ được xây bằng gạch, trong đó hai trụ giữa cao hơn, trạm khắc hình tượng hai con nghê chầu vào nhau. Theo quan niệm tâm linh xưa, nghê là con vật linh không gây hại, có khả năng phân biệt kẻ ác - người thiện. Hai trụ ngoài đắp nổi hình ảnh bốn con chim phượng, xoè rộng đôi cánh, phần đuôi đan xen vào nhau. Phượng được xem là loài chim linh thuộc tầng trên, tượng trưng cho chân lý-thiện lương, mặt trời (mắt), vũ trụ bao la (lưng), cây cỏ (long), gió (cánh), tinh tú (đuôi), đất (chân). Bởi thế, phượng hiện thân cho toàn bộ vũ trụ, mang trọng trách vận chuyển bầu trời.

Hai tấm bia đá Hạ Mã được đặt trong hai nhà bia nhỏ xây gạch. Tấm bia được dựng lên từ xa xưa với mục đích thể hiện sự tôn vinh đối với Khổng Tử và các bậc hiền triết. Dù là công hầu, khanh tướng hay võng lọng, ngựa xe, hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ Mã này sang tấm bia Hạ Mã kia mới được lên ngựa, lên xe đi tiếp. Việc xuống ngựa đi bộ thể hiện sự kính trọng đối với nơi thờ phụng và tôn sư trọng đạo. Tấm bia Hạ Mã là một di tích lịch sử và văn hóa, là một minh chứng cho sự tôn trọng của người Việt Nam đối với Nho giáo và các giá trị truyền thống của dân tộc.

Dù là công hầu, khanh tướng hay võng lọng, ngựa xe, hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ Mã này sang tấm bia Hạ Mã kia mới được lên ngựa, lên xe đi tiếp

- Josh

 

Văn Miếu môn

Trước mắt chúng ta là lối vào chính của khu Văn Miếu, nơi có Văn Miếu Môn ở phía nam. Văn Miếu Môn là cổng quan ngoài cùng, hay còn gọi là cổng Tam Quan lớn xây 2 tầng 3 cửa. Cửa giữa rộng hơn, trên tầng trên có đề chữ “Văn Miếu Môn”. Kiến trúc của Văn Miếu Môn khá độc đáo và đẹp mắt, với kiểu kiến trúc hai tầng tám mái.

 

Nhìn từ bên ngoài, Tam Quan là một kiểu kiến trúc riêng biệt với cửa chính giữa xây hai tầng. Mặt bằng hình vuông, tầng dưới rộng hơn tầng trên, xung quanh có hành lang nhỏ với lan can. Phía bên trong tầng dưới chỉ có một cửa hai cánh bằng gỗ lim mở vào trong, hình bán nguyệt và chạm nổi hình đôi rồng chầu mặt nguyệt. Hai cửa nhỏ hai bên là bậc lên tầng hai.

Tầng 2 chính là Tam Quan với 3 cửa vòm không có cánh cửa. Tầng trên có tám mái, bốn mái hiên và bốn mái nóc cong lên ở bốn góc. Bờ nóc đắp nổi “lưỡng long chầu nguyệt”, thể hiện sự hài hòa âm dương. Hình ảnh này xuất hiện khá nhiều ở các cánh cửa ở các bậc cổng, biểu tượng cho Nho Giáo.

"Lưỡng long chầu nguyệt" - Sự hài hòa âm dương trong nét kiến trúc biểu tượng của Nho giáo ở Văn miếu Quốc tử giám

- Josh

 

Kiến trúc của Văn Miếu Môn là sự kết hợp hài hòa giữa tính thẩm mỹ và tính biểu tượng, thể hiện khí phách và tôn nghiêm của Nho Giáo.

Trước kia, trên cổng tam quan có dựng một tấm bia khắc hai bài thơ tứ tuyệt của vua Khải Định khi đi bắc tuần ghé thăm Văn Miếu năm 1891. Bia đó nay không còn chỉ còn hai bệ bia bằng đá, hai mặt bệ là hình hổ phù rất đẹp. Hổ Phù là một quỷ vương kẻ thù của mặt trăng và mặt trời, hay tìm nuốt mặt trăng và mặt trời tạo ra hiện tượng nguyệt thực và nhật thực: nguyệt thực toàn phần được người Việt Nam xem như là đói và chiến tranh, Nguyệt thực một phần sẽ no đủ cho nên người ta hay chạm Hổ Phù về mặt trăng sa, sau nay thay bằng chữ nho hay hoa cúc để cầu sự no đủ.

Phía trước cổng tam quan là đôi rồng đá cách điệu thời Lê, uy nghi và trang nghiêm. Bên trong là đôi rồng mang phong cách đời Nguyễn, điêu luyện và tinh tế. Hai mặt tam quan đều được đắp nổi hai câu đối chữ Hán, như những lời nhắn nhủ, động viên của tiền nhân dành cho lớp lớp học trò:

  • "Long ngư hội tụ" - Cá rồng ẩn hiện trong mây, ví như cảnh thanh vân đắc lộ của các nho sinh thành đạt.
  • "Mảnh hổ hạ sơn" - Núi rừng mây nước nổi bật lên dáng dấp của một con hổ hùng dũng xuống núi, ví như các bậc thức giả khí thế bước vào đời.

Sau đó là "tả môn" và "hữu môn" ở hai bên, với kích thước nhỏ hơn và thấp hơn, cũng được xây dựng với bốn mái hiên và bốn mái nóc, tạo nên kiến trúc tựa như hai tầng. Cổng tam quan chỉ được mở khi các bậc vua quan đến thăm văn miếu và tế lễ Khổng Tử. Học trò và thứ dân thì phải đi bằng hai cửa ngách.

Cổng tam quan chỉ được mở khi các bậc vua quan đến thăm văn miếu và tế lễ Khổng Tử. Học trò và thứ dân thì phải đi bằng hai cửa ngách

- Josh

 

Đại Trung môn - Cửa thứ 2 ở Văn Miếu

Đi theo con đường lát gạch này sẽ tới khu thứ hai, mở đầu bằng cổng "Đại Trung Môn" với 2 cổng nhỏ bên cạnh có tên lần lượt là "Thành Đức" (bên trái) và "Đạt Tài" (bên phải), mang ý nghĩa là nền giáo dục Nho giáo hướng tới việc đào tạo con người vừa có đạo đức vừa có tài năng.

Cổng Đại Trung gồm 3 gian, xây trên nền gạch cao, mái lợp ngói mũi hài. Phía trước và sau cổng là 2 hàng cột, ở chính giữa dựng "hàng cột chống nóc". Trên cổng chính là hình ảnh 2 con cá chép chầu bình móc.

 

Sở dĩ có hình ảnh cá chép là vì trong truyền thuyết của Trung Quốc, cá chép có thể vượt vũ môn. Theo đó, hằng năm, trời tổ chức cuộc thi kén rồng ở cửa Vũ. Bất kỳ loài cá nào nhảy qua được cửa này trong 3 lần liên tiếp thì sẽ có tiếng sấm nổ, và cá đó biến thành rồng. Chỉ duy nhất cá chép là làm được điều này. Ngày nay, người ta thường thấy cá trê đầu bẹp vì trong cuộc thi, nó không vượt qua được cửa Vũ và đầu va vào đá. Cá chày có mắt đỏ là vì nó không vượt qua được cửa Vũ và khóc rất nhiều.

Do vậy, cửa Vũ được dùng để chỉ chốn trường thi, còn cá vượt vũ môn tượng trưng cho việc thi cử. Để đỗ đạt trong thi cử, con người cần tích lũy kiến thức và học tập chăm chỉ.

Khuê văn các

Từ Cửa Đại Trung Môn, du khách sẽ đi qua một sân rộng rồi tới Khuê Văn Các. Khuê Văn Các là một công trình kiến trúc độc đáo, là biểu tượng của Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

 

Khuê Văn Các là một lầu vuông tám mái được xây dựng vào năm 1805 đời vua Gia Long triều Nguyễn. Công trình có hai tầng, mái cong, lợp ngói lưu ly màu xanh, xung quanh có hành lang rộng. Gác dựng trên một nền vuông cao lát gạch Bát Tràng, kiểu dáng kiến trúc độc đáo.

Tầng một của Khuê Văn Các có bốn trụ biểu bằng đá, khắc hình rồng chầu mặt trời. Trên tầng hai có bốn bức hoành phi, ca ngợi những người đỗ đạt cao trong kỳ thi tiến sĩ. Bốn cạnh sàn gỗ có diềm trạm trổ tinh vi, bốn góc sàn làm lan can con trên cùng bằng gỗ. Bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống toả ra 4 phía.

 

Khuê Văn Các là nơi lưu giữ và trưng bày những tác phẩm văn học, lịch sử, địa lý, y học... của các danh nhân văn hóa Việt Nam. Đây cũng là nơi tổ chức các buổi họp mặt, trao đổi học thuật của các nhà Nho. Khuê Văn Các là một công trình kiến trúc đẹp, có giá trị lịch sử và văn hóa to lớn. Đây là một điểm đến không thể bỏ qua đối với những du khách đến thăm Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

Hình tròn và vuông trong kiến trúc những khung cửa sổ ở Khuê Văn Các và liên hệ tới văn hóa của người Việt

Trong văn hóa truyền thống của người Việt, ngôi nhà không chỉ là nơi cư ngụ mà còn là không gian thể hiện những quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan. Ngôi nhà thường được xây dựng theo kiểu nhà ba gian, hai chái, với hệ thống cửa sổ tròn trong khung gỗ vuông, vừa mang giá trị thẩm mỹ, vừa ẩn chứa ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

Các cửa sổ tròn trong khung gỗ vuông được coi là biểu tượng của quan niệm trời tròn đất vuông, âm dương hòa hợp. Trời tượng trưng cho sự tròn, đất tượng trưng cho sự vuông, âm tượng trưng cho sự tối, dương tượng trưng cho sự sáng. Những cửa sổ tròn trong khung gỗ vuông tượng trưng cho sự cân bằng và hài hòa giữa trời và đất, giữa âm và dương, tạo nên sự cân bằng và ổn định trong cuộc sống.

Sự hài hòa âm dương cũng được thể hiện qua các cửa sổ tròn trong khung gỗ vuông trên khuê văn các

- Josh

 

Ngoài ra, những thanh gỗ chống tượng trưng cho sức khỏe và sự vững chắc của ngôi nhà. Những thanh gỗ này được liên kết với nhau một cách chắc chắn, tạo nên sự vững chắc cho ngôi nhà, đồng thời cũng tượng trưng cho sức khỏe và sự trường thọ của những thành viên trong gia đình, mang lại may mắn và bình an cho gia chủ.

Những cửa sổ tròn trong khung gỗ vuông và những thanh gỗ chống không chỉ là những chi tiết trang trí mà còn thể hiện những giá trị văn hóa và niềm tin của người xưa về thế giới quan và nhân sinh quan, tạo nên một không gian sống hài hòa và ấm cúng.

Giải thích về thiên thể (Giải thích ý nghĩa Khuê Văn Các theo góc nhìn thiên văn học): Khuê Văn Các theo giải thích về thiên thể thì Khuê là một ngôi sao trong chòm 28 sao, là đầu Bạch Hổ phương tây có 16 ngôi sắp xếp khúc khửu giống hình chữ văn. Chính vì vậy sao khuê được coi là sao chủ về văn học. Khuê Văn Các là biểu tượng cho thủ đô Hà Nội, biểu tượng của trí thức, biểu tượng cho Thủ Đô ngàn năm văn hiến.

Giếng Thiên Quang

Khuê Văn Các sừng sững bên cạnh giếng Thiên Quang trong xanh, mặt giếng in hình Gác Khuê Văn. Khuê Văn Các, một kiến trúc độc đáo và tinh xảo, như viên ngọc quý tỏa sáng giữa quần thể di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Hai bên Khuê Văn Các là Bí Văn và Súc Văn, là hai cửa có tên mang ý nghĩa sâu sắc trong văn học.

 

Tiếp theo, chúng ta sẽ khám phá giếng Thiên Quang hay còn được gọi là Văn Trì, tức Ao Vua. Thiên Quang mang ý nghĩa là giếng trời trong sáng. Việc đặt tên này thông qua mong muốn con người có thể tiếp nhận tinh túy của vũ trụ, soi sáng trí thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn. Giếng có hình dạng ấn tượng: hình vuông, có hành lang bao quanh. Công trình kiến trúc này được xây dựng dựa trên quan niệm của người xưa: giếng hình vuông biểu tượng cho đất, cửa tròn gác văn khuê biểu tượng cho trời. Như vậy, tinh hoa của cả đất và trời được tập trung tại trung tâm văn hoá giáo dục lớn nhất cả nước tại kinh đô Thăng Long.

Sự hài hòa âm dương được thể hiện qua sự kết hợp giữa giếng Thiên Quang và Khuê Văn Các: giếng hình vuông biểu tượng cho đất, cửa tròn gác văn khuê biểu tượng cho trời

- Josh

Khu nhà bia

Bên cạnh giếng Thiên Quang là khu nhà bia. Đây là một di tích có giá trị bậc nhất tại Văn Miếu –Quốc Tử Giám. Khu nhà bia gồm 82 tấm bia chiến sĩ được chia đều sang 2 bên giếng Thiên Quang. Trên bia khắc rõ tên và quê quán của 1307 vị tiến sĩ.

Từ đời Vua Lê Thánh Tông (1484), các đời vua kế tiếp đã tiếp tục dựng bia ở Văn Miếu để khắc tên các vị danh nhân, biểu dương những người đỗ đạt làm Tiến sĩ và khuyến khích tinh thần học hành thi cử. Mỗi bên Khu nhà bia đều có một tòa đình vuông, 4 mặt trống không, bên trong thờ bia nên còn được gọi là Bi Đình.

Trước đây, cứ vào xuân thu nhị kỳ, trong Văn Miếu làm lễ tế thì ở đây cung sẽ sắp lễ vật cúng bái các nhà nho. Hiện nay, bia đá vẫn còn ghi tên các bậc tiên nho ấy. 82 tấm bia tiến sĩ đại diện cho 82 phong cách điêu khắc với kích thước khác nhau. Bia được dựng trên lưng một con rùa, đầu ngẩng cao, 4 chân xoài rộng trong tư thế như đang bò lên.

Bia có ba phần chính: trán bia, thân bia và đáy bia.

  • Trán bia: Trán bia có hình khum vòm với các họa tiết lưỡng long chầu mạn nguyệt
  • Thân bia là phần quan trọng nhất của bia, gồm các nội dung sau:
    • Niên đại tổ chức khoa thi: ghi ở phần trên cùng sát với trán bia.
    • Bài kí ca ngợi triều vua đang trị vì: khắc theo chiều dọc của bia, đọc từ trên xuống dưới, từ phải sang trái.
    • Năm tổ chức khoa thi, số lượng thí sinh thi, số lượng người đỗ: ghi ở phần tiếp theo của thân bia.
    • Tên tuổi quê quán của người viết văn bia và người khắc bia.
    • Tên tuổi quê quán của các vị tiến sĩ được sắp xếp từ cao xuống thấp, gồm:
      • Đệ nhất tiến sĩ
      • Đệ nhị tiến sĩ
      • Đệ tam tiến sĩ
  • Đế bia có hình dáng một con rùa.

Có lẽ các bạn thắc mắc lý do tại sao lại là rùa phải không ạ? Rùa là một loài vật gắn bó với người Việt Nam từ xa xưa. Theo quan niệm của người Việt, rùa là một trong tứ linh, đại diện cho đất, trời, âm và dương. Vì thế, rùa là biểu tượng của trường tồn và vĩnh cửu. Rùa cũng là sứ giả của Thủy Vương giúp Lê Lợi đại phá quân Minh. Trên mai rùa có thể khắc bia đá, nhằm khẳng định sự trường tồn của trí tuệ và tinh hoa dân tộc Việt.

Sự hài hòa âm dương một lần nữa được biểu thị qua việc đặt bia tiến sĩ trên lưng rùa. Theo quan niệm của người Việt, rùa là một trong tứ linh, đại diện cho đất, trời, âm và dương. Trên mai rùa có thể khắc bia đá, nhằm khẳng định sự trường tồn của trí tuệ và tinh hoa dân tộc Việt.

- John Smith

 

Có thể bạn chưa biết? Một số thông tin thú vị trên các tấm bia ở Văn Miếu

82 tấm bia có ghi 1307 nhân vật trong đó có 17 trạng nguyên, 19 bảng nhãn, 47 thám hoa, 284 hoàng giáp và 938 tiến sĩ.

  • Người đầu tiên được khắc tên trên bia tiến sĩ là ông Nguyễn Trực vào năm 1442.
  • Người cuối cùng được khắc tên trên bia tiến sĩ là ông Phạm Huy Ôn vào năm 1779.
  • Người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất là ông Bàn Tử Quang, đỗ tiến sĩ năm 84 tuổi.
  • Người đỗ tiến sĩ trẻ nhất là Nguyễn Hiền, đỗ tiến sĩ năm 13 tuổi.
  • Qua văn bia, chúng ta vẫn thấy có những vị danh nhân vẫn được lưu truyền như nhà sử học Ngô Sĩ Liên, nhà ngoại giao lỗi lạc Ngô Thì Nhậm...
  • Khi nhìn vườn bia, các bạn có thể thấy nhiều tấm bia với kiến trúc khác nhau bởi chúng được làm trong thời gian khác nhau.

Số lượng bia khắc được phân chia như sau:

  • Những tấm bia khắc vào thế kỷ 15: 14 chiếc
  • Những tấm bia khắc vào thế kỷ 17: 25 chiếc
  • Những tấm bia loại ba được xây dựng vào thế kỷ 18
  • Ngoài ra còn có một số bia không thuộc loại nào.

Một số hàng chữ trên bia đã bị xóa đi do khi triều Nguyễn lên cầm quyền, do có những mâu thuẫn với triều đình trước, đã cho xóa đi.

Từ khoa thi Nhâm Tuất (1442) tới khoa thi Đinh Mùi (1789), phải có 124 kỳ thi và phải có 117 bia tiến sĩ. Nhưng sau bao chiến tranh, hiện nay chỉ còn 82 bia.

Tổng quan về khu Quốc tử giám

Khu vực thứ tư của Văn Miếu - Quốc Tử Giám là cổng Đại Thành và Nhà Đại Bái. Cổng Đại Thành là cổng tam quan lớn, nằm giữa khu vực thứ ba (Khuê Văn Các) và khu vực thứ năm (Khu Đại Thành). Cổng được xây dựng vào năm 1562, thời Lê Trung Hưng, có ba cửa vòm, mái cong, lợp ngói dì. Trên cổng có ba chữ Hán "Cổng Đại Thành" được đặt trong biển đá. Trên mái cổng có hai con rồng cheo lẽo, mỗi con dài khoảng 1,5m, cao khoảng 0,6m, được làm bằng đá xanh, có tư thế đang bay (? Thông tin cần xác minh).

Cửa Đại Thành có 3 gian và 2 cột hiên trước và sau, tương tự như cửa Đại Trung, với một hang ở giữa đỡ xà nóc. Tất cả ba gian đều được lắp đặt cửa gỗ sơn đỏ trang trí các họa tiết rồng phượng và mây. Trên gian giữa, có đề ba chữ lớn "Đại Thành Môn". Cửa Đại Thành tượng trưng cho cánh cửa của sự thành đạt lớn lao, mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính, mang ý nghĩa về học vấn và đạo đức. Hai bên Cửa Đại Thành có hai cửa phụ là Kim Thanh ở phía đông (bên phải) và Ngọc Chấn ở phía tây (bên trái). Đây là hai lối vào sân đại bái và điện đại thành. Trước đây, Cửa Đại Thành chỉ được mở khi tế Khổng Tử.

Sau khi đi qua cổng Đại Thành, các bạn sẽ đến với Nhà Đại Bái, còn gọi là Trung Đường. Đây là một ngôi nhà lớn, nằm ngay sau Đại Thành Môn, được xây dựng từ năm 1686, thờ đức Khổng Tử và Tứ Phối. Nhà Đại Bái có kết cấu theo kiểu tiền đường hậu cung, gồm 5 gian 2 chái. Ở gian giữa có đặt tượng đức Khổng Tử, ở hai gian bên trái và phải có đặt tượng Tứ Phối (Tử Tư, Mạnh Tử, Tăng Tử và Nhan Hồi). Nhà Đại Bái có kiến trúc đồ sộ, nguy nga, là nơi diễn ra các lễ tế Khổng Tử và các nghi lễ quan trọng khác của Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Khu vực thứ tư của Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa và lịch sử quý báu của dân tộc Việt Nam. Đây là một điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của người Việt Nam.

Chúng ta đang ở sân Đại Bái. Trước mắt là điện đại thành và cung điện, hai bên là hai dãy nhà thờ học trò của Khổng Tử ở phía đông và phía tây (đông vu và tây vu). Hai dãy nhà này đều có 9 phòng. Trước đây, hai bên đều có 5 bệ, trên đó có 5 bàn để tưởng nhớ 72 học trò của Khổng tử (thát thập nhị hiền). Kiến trục cũ đã bị phá hỏng vào năm 1946, hiện nay kiến trục đã được xây lại từ năm 1954. Hiện nay nơi đây trưng bày các tác phẩm nghệ thuật và bán đồ lưu tiệm. Tòa Bái Đường là nơi tổ chức các nghi thức tế tự, vì vậy ở chính giữa có một hương án có các đồ đạc để tưởng nhớ.

Trên hai bên hương án, có hình ảnh hai con hạc đứng trên lưng rùa. Hạc tượng trưng cho sự thanh cao, tinh túy, còn rùa biểu tượng cho đất. Hai hình ảnh này kết hợp với nhau, thể hiện sự hài hòa âm dương giữa trời và đất. Ngoài ra, hình ảnh hạc đứng trên lưng rùa còn mang ý nghĩa tượng trưng cho sự chung thủy, tương trợ giúp đỡ nhau của những người bạn tốt khi gặp khó khăn.

Hạc tượng trưng cho sự thanh cao, tinh túy, còn rùa biểu tượng cho đất. Hai hình ảnh này kết hợp với nhau, thể hiện sự hài hòa âm dương giữa trời và đất.

- Josh

 

Phía trên hương án có bức hoành phi đề bốn chữ "Vạn Thế Sư Biểu", nghĩa là người thầy tiêu biểu của muôn đời. Đây là câu nói của vua Khang Hy để tặng cho Khổng tử.

Ở gian đầu hồi phía đông còn có bức hoành phi "Cổ kim nhật nguyệt", cùng với chuông và bích ung, đều do tư nghiệp Quốc tử giám quận công Nguyễn Nghiễm - cha của Nguyễn Du - làm vào năm 1768.

Điện Đại Thành

Bây giờ, chúng ta sẽ tiếp tục tiến vào điện Đại Thành. Điện Đại Thành là nơi thờ Khổng Tử (ở ngay gian chính), Tứ Phối và Thập Triết.

Khổng Tử (551-479TCN) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Quốc. Ông sinh tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ(nay là huyện Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Khổng Tử là người sáng lập ra đạo nho ở Trung Quốc. Chủ yếu dạy về đạo làm người.

Trong gian chính của Văn Miếu, Khổng Tử được thờ ở vị trí trang trọng nhất. Tượng của ông được đặt ở chính giữa, cao lớn uy nghiêm. Khổng Tử là biểu tượng cho trí tuệ, đạo đức và văn hóa của Trung Quốc. Ông được người đời tôn là Vạn Thế Sư Biểu.

Tứ Phối là bốn học trò của Khổng Tử

Nói đến Khổng Tử, người ta không thể không nhắc đến Tứ Phối. Tứ Phối là bốn học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử, gồm Nhan Hồi, Tăng Sâm, Tử Tư và Mạnh Tử. Họ được phối thờ cùng Khổng Tử tại các Văn Miếu ở Trung Quốc và Việt Nam.

  • Nhan Hồi: Là học trò được Khổng Tử yêu quý nhất. Ông nổi tiếng với lòng hiếu học và đức tính khiêm tốn.
  • Tăng Sâm: Là học trò thông minh và chăm chỉ. Ông nổi tiếng với câu nói "Nhất nhật bất học, bách nhật vi bất huân" có nghĩa là "Một ngày không học tập thì một trăm ngày không yên lòng".
  • Tử Tư: Là học trò truyền bá tư tưởng của Khổng Tử. Ông là người biên soạn cuốn sách "Trung Dung", một trong những tác phẩm kinh điển của Nho giáo.
  • Mạnh Tử: Là học trò phát triển tư tưởng của Khổng Tử. Ông là người biên soạn cuốn sách "Mạnh Tử", một trong những tác phẩm kinh điển của Nho giáo.

Cùng với Khổng Tử, Tứ phối là những đại diện tiêu biểu của Nho giáo. Họ đã góp phần làm cho Nho giáo trở thành một trong những hệ thống tư tưởng lớn nhất của Trung Quốc và Việt Nam.

Hai gian đầu hồi ở nhà thờ chính của Khuê Văn Các có tất cả 10 tấm bia đá, gọi là bia bài vị Thập Triết. Đó là những tấm bia của 10 người tiêu biểu cho 4 khoa: Đức hạnh, Ngôn ngữ, Chính trị và Văn học. Bia bài vị Thập Triết có từ năm Minh Mạng thứ 18 (1837) và cho đến năm Minh Mạng thứ 21 (1840) thì hoàn thành. Bia được làm bằng đá Thanh, mặt bia vuông, cao 1,45m, rộng 0,75m, dày 0,13m. Các tấm bia bài vị này đã được danh nhân Khoa cử Việt Nam đương thời là Phan Huy Ích chấp bút.

Nhà Thái học

Sau đây xin mời các bạn đến tham quan khu nhà Thái Học. Nhà Thái Học với diện tích 1530m2 gồm các công trình kiến trúc chính là tiền đường, hậu đường, tả vu, hữu vu, nhà chuông và nhà trống.

  • Lầu Thái Học: Đây là phần trung tâm và quan trọng nhất của nhà Thái Học. Lầu Thái Học được chia làm ba gian: gian giữa gọi là Chính điện, gian bên trái gọi là Hữu vu, gian bên phải gọi là Tả vu. Chính điện là nơi đặt tượng thờ Khổng Tử, các bậc tiên thánh, tiên hiền và danh nhân văn hóa Việt Nam. Hữu vu và Tả vu là nơi thờ tự các danh thần, nghĩa sĩ, anh hùng liệt nữ có công lao lớn trong việc giữ gìn và phát triển văn hóa, giáo dục nước nhà.
  • Tiền đường: Nhà tiền đường là nơi lưu giữ và trưng bày những truyền thống hiếu học của dân tộc, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống. Đồng thời, nhà tiền đường cũng là nơi tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, văn hóa, nghệ thuật dân tộc nhằm giao lưu học hỏi, trao đổi kiến thức và phát triển văn hóa dân tộc.
  • Hậu đường: Hậu đường nằm liền kề với Lầu Thái Học, là nơi thờ tự các bậc tổ tiên và các thành viên họ Chu đã từng giữ chức quan trọng trong triều đình phong kiến Việt Nam. Cụ thể, hậu đường là nơi tôn vinh Chu Văn An, một nhà giáo đức cao vọng trọng. Ông đỗ thái học sinh dưới triều Trần nhưng đã từ chối làm quan để về quê dạy học. Ông đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Vào thời Trần Minh Tông, ông được mời ra dạy học cho thái tử Trần Vượng. Tuy nhiên, khi triều Trần Dụ Tông lên ngôi, gian thần lộng hành, vua đã từ chối Thất Trảm sớ của ông, Chu Văn An đã từ quan và về ở ẩn tại Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương). Khi ông mất ở tuổi 78, ông được truy tặng tước Văn Trinh Công và ban tên thụy là Khang Tiết, đồng thời được thờ ở Văn Miếu.
  • Nhà chuông: Nhà chuông là nơi đặt treo chuông đồng lớn, dùng để báo hiệu thời gian trong việc học tập và các nghi lễ diễn ra trong khuôn viên nhà Thái Học.
  • Nhà trống: Nhà trống là nơi đặt treo trống đồng lớn, dùng để thông báo cho các nho sinh về giờ bắt đầu và kết thúc buổi học.

So sánh kiến trúc Văn Miếu xưa và nay

Mô hình Văn Miếu-Quốc Tử Giám xưa

  • Kiến trúc: Văn Miếu được xây dựng theo kiểu chữ "U", với cổng chính hướng Nam, nhìn ra hồ Văn Chương.
  • Quần thể gồm có:
    • Văn Miếu: Nơi thờ tự Khổng Tử, các bậc tiên hiền và các trạng nguyên, tiến sĩ.
    • Quốc Tử Giám: Trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nơi đào tạo nhân tài cho đất nước.
    • Hồ Văn Chương: Nằm ở phía trước Văn Miếu, là nơi sinh sống của nhiều loài chim nước.
    • Mái ngói cong, tường gạch đỏ, cột gỗ lim, chạm trổ tinh xảo.
  • Bên trong:
    • Văn Miếu: Có tượng Khổng Tử, tượng Tứ Phủ và tượng 72 vị trạng nguyên.
    • Quốc Tử Giám: Có giảng đường, thư viện, nhà ở của các thầy giáo và học trò.
  • Hoạt động:
    • Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tổ chức các kỳ thi khoa cử, tế lễ Khổng Tử và các bậc tiên hiền.
    • Nơi đây cũng là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước, với nhiều danh nhân nổi tiếng như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm...

Mô hình Văn Miếu-Quốc Tử Giám ngày nay:

  • Kiến trúc: Văn Miếu-Quốc Tử Giám vẫn giữ nguyên kiến trúc như xưa, nhưng đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần.
  • Quần thể gồm có:
    • Văn Miếu: Vẫn là nơi thờ tự Khổng Tử, các bậc tiên hiền và các trạng nguyên, tiến sĩ.
    • Quốc Tử Giám: Hiện là Bảo tàng Văn Miếu-Quốc Tử Giám, lưu giữ và trưng bày nhiều hiện vật có giá trị.
    • Hồ Văn Chương: Vẫn là nơi sinh sống của nhiều loài chim trời, cá nước.
  • Bên trong:
    • Văn Miếu: Vẫn có tượng Khổng Tử, tượng Tứ Phủ và tượng 72 vị trạng nguyên.
    • Quốc Tử Giám: Có phòng trưng bày hiện vật, thư viện, phòng chiếu phim...
  • Hoạt động:
    • Văn Miếu-Quốc Tử Giám vẫn là nơi tổ chức các kỳ thi khoa cử, tế lễ Khổng Tử và các bậc tiên hiền.
    • Nơi đây cũng là điểm tham quan du lịch nổi tiếng, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước.

Văn Miếu ngày xưa có diện tích rộng lớn, bao gồm toàn bộ khu vực của bệnh viện Sanh pôn và Bảo Tàng Mỹ Thuật hiện nay và cả khu hồ Văn rộng lớn. Khu vực này được quy hoạch và xây dựng từ thời Lý, với mục đích chính là để thờ Khổng Tử và các học trò của ông, cũng như để giáo dục và đào tạo các sĩ tử.

Khu nhà Thái học

Tuy nhiên, theo dòng chảy của thời gian và sự phát triển của đất nước, diện tích khu vực này đã bị thu hẹp đáng kể. Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám chỉ còn 54331m2. Trên nền đất nhà Thái Học, ngôi trường đại học đầu tiên của Việt Nam, còn lưu giữ một số kiến trúc. Tầng 1 thờ danh sư Chu Văn An - biểu tượng của nền giáo dục xưa và nay. Tầng 2 là nơi tưởng nhớ công lao của ba vị vua có công tu sửa và xây dựng Văn Miếu-Quốc Tử Giám: Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông. Ban đầu, Quốc Tử Giám chỉ dành cho các vị Thái tử, sau đó được mở rộng quy mô hơn. Thời gian học tập kéo dài 3 năm và các thí sinh phải trải qua ba kỳ thi: hương, hội và đình.

Ở gian chính giữa thờ vua Lý Thánh Tông sinh năm 1023 ở ngôi được 17 năm, thọ 50 tuổi. Ông là người đổi tên nước ta từ Đại Cồ Việt sang Đại việt.

Lý Thánh Tông tên húy là Lý Nhật Tôn là vị vua thứ ba của nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông sinh năm 1023, mất năm 1072, thọ 50 tuổi, trị vì đất nước 17 năm. Lý Thánh Tông lên ngôi vào năm 1054 sau khi vua cha Lý Nhân Tông băng hà. Trong thời gian trị vì, ông đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, bao gồm:

  • Đối ngoại: Ông mở rộng lãnh thổ nước ta bằng cách đánh bại các quốc gia lân cận như Chiêm Thành, Chăm Pa và Đại Việt.
  • Nội chính: Ông thực hiện nhiều cải cách quan trọng, đặc biệt là về hành chính, thuế khóa và giáo dục. Ông cũng cho xây dựng nhiều công trình lớn, tiêu biểu là tháp Báo Thiền ở Hà Nội.
  • Văn hóa: Ông là một người rất coi trọng giáo dục và văn hóa. Ông mở rộng hệ thống giáo dục, xây dựng nhiều trường học và khuyến khích phát triển văn học nghệ thuật.

Lý Thánh Tông là một vị vua tài năng và có công lớn đối với sự phát triển của nước ta thời nhà Lý. Ông được nhân dân tôn vinh là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

Bên phải là bàn thờ Lý Nhân Tông. Lý Nhân Tông (1066 - 1127) là vị vua thứ tư của nhà Lý, trị vì nước Đại Việt trong 56 năm. Ông là một vị vua tài giỏi và anh minh, đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước. Năm 1076, Lý Nhân Tông đã cho phép triều đình lập ra Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Quốc Tử Giám là nơi đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của giáo dục và khoa học nước nhà.

Lý Nhân Tông còn cho chọn nhiều hiền tài vào đào tạo, phục vụ cho đất nước. Trong đó, nhiều người đã trở thành những danh nhân nổi tiếng như Chu Văn An, Nguyễn Phi Khanh, Lương Thế Vinh... Những đóng góp của Lý Nhân Tông cho sự phát triển của đất nước rất to lớn. Ông là một vị vua tài giỏi, anh minh và được người dân Việt Nam kính trọng.

Bên trái là tượng thờ vua Lê Thánh Tông, vị vua thứ năm của triều Lê sơ. Ông trị vì được 38 năm, từ năm 1460 đến 1497, đây là thời kỳ thịnh vượng nhất của triều Lê Sơ nên người đời đánh giá ông là vị vua minh mẫn, sáng suốt.

Trong năm năm đầu trị vì, Lê Thánh Tông cho mở rộng quốc thổ về phía nam, chiếm được Champa. Ông còn mở đường sang Ai Lao (Lào) và Đàm La (Đài Loan). Ông được người đời đánh giá là vị vua giỏi giang về võ. Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh xây dựng lại Quốc Tử Giám theo quy mô lớn, đồng thời ban hành nhiều chính sách giáo dục nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước. Ông nổi tiếng là một nhà văn hóa và là người bảo trợ cho Nho giáo. Ông chính là người đã nâng cao tầm vóc của Quốc Tử Giám.

Ba vị vua là tinh hoa của thời kỳ phong kiến Việt Nam khi biết lấy sự học làm cái gốc cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Bùng nổ với niềm tự hào, tầng 2 nhà Thái Học đã cho chúng ta khép lại hành trình khám phá di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám linh thiêng và ý nghĩa.

Ba vị vua (Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông) là tinh hoa của thời kỳ phong kiến Việt Nam khi biết lấy sự học làm cái gốc cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. 
- Josh

Giá trị văn hóa, lịch sử của 82 bia tiến sĩ

Trong hành trình khám phá di sản văn hóa dân tộc, chúng tôi đã có cơ hội cùng nhau trải nghiệm những giá trị nhân văn sâu sắc và độc đáo, cũng như truyền thống hiếu học đáng tự hào của người dân Việt Nam. Một trong những điểm nhấn không thể bỏ qua chính là 82 tấm bia tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, biểu tượng cho tinh hoa trí tuệ và sự thành đạt của vùng đất này.

Những tấm bia tiến sĩ được dựng lên từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, lưu giữ tên tuổi và sự nghiệp của những người đã đỗ đạt trong các kỳ thi cử thời xưa. Mỗi tấm bia là một câu chuyện về nghị lực, tài năng và khát vọng thành công. Chúng ghi dấu những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử giáo dục Việt Nam, phản ánh tinh thần hiếu học và trọng dụng nhân tài của các triều đại phong kiến.

Khi đứng trước những tấm bia tiến sĩ, chúng ta không chỉ cảm nhận được niềm tự hào về lịch sử dân tộc mà còn được truyền cảm hứng bởi những tấm gương sáng về tinh thần vượt qua khó khăn, không ngừng học hỏi và phấn đấu vươn lên trong cuộc sống. Những giá trị nhân văn sâu sắc này chính là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam.

Thật vinh dự khi được cùng nhau khám phá và hiểu thêm về những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình. Chuyến đi ý nghĩa này sẽ mãi là kỷ niệm sâu sắc trong tâm trí mỗi người, thôi thúc chúng ta tiếp tục học hỏi, trau dồi kiến thức và đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng đất nước.

Kết thúc tài liệu tham quan Văn Miếu Quốc tử giám

Văn Miếu Quốc tử giám là một di tích lịch sử văn hóa quan trọng của Việt Nam, là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, là nơi đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất nước. Văn Miếu Quốc tử giám còn là nơi thờ phụng các danh nhân văn hóa và khoa học của Việt Nam.

Di tích Văn Miếu Quốc tử giám gồm nhiều công trình kiến trúc và mỗi công trình đều có một giá trị lịch sử và văn hóa riêng.

Văn Miếu Quốc tử giám là một nơi rất thích hợp để tìm hiểu về lịch sử và văn hóa Việt Nam. Đến thăm Văn Miếu Quốc tử giám, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc cổ kính, những hiện vật lịch sử quý giá và được tìm hiểu về những danh nhân văn hóa, khoa học của Việt Nam.

Để có những trải nghiệm thực tế và hiểu hơn về Văn Miếu cũng như văn hóa Việt Nam, vui lòng đến với Văn Miếu và trải nghiệm thực tế tại đây.

Theo Linhna

Xem thêm: