Tài liệu thuyết minh bảo tàng dân tộc học Việt Nam cho HDV mới

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không chỉ là một cơ sở nghiên cứu mà còn là một trung tâm văn hóa với các chức năng quan trọng sau: Nghiên cứu khoa học, sưu tập, kiểm kê, bảo quản, phục chế, trưng bày, biểu diễn nhằm giới thiệu và giáo dục về những giá trị lịch sử – văn hóa của các dân tộc trong và ngoài nước; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc; đào tạo cán bộ nghiên cứu, nghiệp vụ, quản lý về nhân học bảo tàng và bảo tàng dân tộc học.

Kế hoạch xây dựng BTDTHVN

Loại hình bảo tàng dân tộc học có ý nghĩa to lớn về nhiều phương diện ở cả qui mô quốc gia và từng địa phương, bởi Việt Nam đặc biệt có 54 dân tộc. Đáp ứng xu hướng này, từ năm 1981, Nhà nước đã quyết định thành lập Bảo tàng Dân tộc học tại thủ đô Hà Nội.

Năm 1981, Nhà nước quyết định thành lập Bảo tàng Dân tộc học tại thủ đô Hà Nội
- Josh

Công trình này được chính thức phê duyệt về mặt kinh tế – kỹ thuật vào ngày 14-12-1987 và được cấp đất xây dựng: năm 1987 – 2.500m2, năm 1988 – 9.500m2, đến năm 1990 Thủ tướng Chính phủ đã giao toàn bộ 3,27 ha.

Bảo tàng bắt đầu được cấp vốn chuẩn bị đầu tư vào năm 1986, và công việc xây dựng triển khai từ cuối năm 1989. Theo luận chứng kinh tế – kỹ thuật, tổng kinh phí để xây dựng là 27 tỷ đồng, không tính khoảng 4 tỷ đồng cho việc sưu tầm hiện vật, tư liệu và tổ chức trưng bày.

Trong suốt nhiều năm, Ban quản lý công trình Bảo tàng và Phòng Bảo tàng thuộc Viện Dân tộc học. Vào ngày 24-10-1995, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (trực thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam).

Vào ngày 12 tháng 11 năm 1997, tại Hà Nội, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Tổng thống Cộng hòa Pháp Jacques Chirac đã cắt băng khai trương Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trong dịp Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 7 các nước sử dụng tiếng Pháp.

Bảo tàng dân tộc học Việt Nam được khai trương ngày 12/11/1997
- Josh

BTDTHVN ở đâu?

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tọa lạc tại đường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy, cách trung tâm Hà Nội 8 km. Khu vực này ban đầu là ruộng đất của người dân địa phương. Các công trình cơ sở hạ tầng tại đây cũng được xây dựng đồng thời với quá trình hình thành Bảo tàng. Đường Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Khánh Toàn trước Bảo tàng cũng được xây dựng mới.

Công trình Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được thiết kế bởi kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (người dân tộc Tày, thuộc Công ty Xây dựng nhà ở và công trình công cộng, Bộ Xây dựng), với nội thất do kiến trúc sư Véronique Dollfus (người Pháp) thực hiện. Kể từ khoảng mười năm trước, Bảo tàng đã bao gồm 2 khu vực chính. Một khu vực bao gồm nhà trưng bày, văn phòng, cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản và các hệ thống kỹ thuật khác, với tổng diện tích 2.480m2, trong đó 750 m2 dành cho kho bảo quản hiện vật. Khu vực thứ hai là khu trưng bày ngoài trời có diện tích khoảng 2 ha, công trình này bắt đầu xây dựng từ năm 1998 và hoàn thành công trình trưng bày cuối cùng trong năm 2006.

Sự hoàn thiện của BTDTHVN là sự kết hợp giữa bản thiết kế xây dựng của KTS người Tày Hà Đức Lịnh và sự sắp đặt nội thất của KTS người Pháp Véronique Dollfus
- Josh

Bên cạnh đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã được cấp thêm hơn 1 ha đất, nâng diện tích khuôn viên của Bảo tàng lên gần 4,4 ha. Tại phần đất mở rộng này, từ giữa năm 2007, một tòa nhà 4 tầng, được đặt tên “nhà Cánh diều”, bắt đầu xây dựng để giới thiệu về văn hóa các dân tộc ngoại quốc, chủ yếu là các dân tộc ở Đông Nam Á. Đây sẽ là khu trưng bày thứ 3 của Bảo tàng.

Số lượng khách đến BTDTH trong 10 năm đầu là bao nhiêu?

Trong mười năm đầu tiên, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã đón tiếp khoảng 1.200.000 lượt khách tham quan, trong đó có trên 530.000 khách quốc tế đến từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Số lượng du khách đến Bảo tàng liên tục tăng lên, năm 2007 đạt 337.000 lượt người, trong 6 tháng đầu năm 2008 đã có hơn 210.000 lượt người.

Tính đến năm 2008, sau 10 năm khai trương, BTDTHVN đã có khoảng 1.700.000 lượt khách tham quan
- Josh

Tài liệu thuyết minh những điểm mới tại bảo tàng dân tộc học Việt Nam cho HDV

Có thể nói, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đóng vai trò là trung tâm trưng bày và lưu giữ những di sản văn hóa quý báu của 54 dân tộc. Cho đến năm 2000, Bảo tàng đã tích luỹ được 15.000 hiện vật, 42.000 bức ảnh (kèm theo), 2190 bản phim, 273 băng ghi âm các cuộc phỏng vấn và âm nhạc, 373 băng video và 25 đĩa CD-ROM. Đây còn là một trung tâm nghiên cứu dân tộc học với các chuyên gia về các dân tộc và các lĩnh vực chuyên ngành. Khách tham quan không chỉ đến đây để giải trí mà còn để tìm hiểu và nghiên cứu về các dân tộc, văn hóa đa dạng và đặc sắc của từng tộc, từng vùng, cũng như giá trị truyền thống chung của các dân tộc. Do đó, từ cư dân địa phương đến du khách quốc tế, từ học sinh, sinh viên đến nhà nghiên cứu đều có thể tìm thấy sự hấp dẫn ở đây.

Giá trị thực tế của các hiện vật tại BTDTH

Hiện vật tại Bảo tàng không chỉ là những cổ vật có giá trị lịch sử mà chủ yếu là những đồ vật phổ thông trong cuộc sống hàng ngày như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái tẩu, tấm chiếu... Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng dân cư, thể hiện mọi mặt cuộc sống và sáng tạo văn hóa của họ. Bởi vậy, bảo tàng sở hữu một kho tàng đa dạng và phong phú, có thể chia thành nhiều bộ sưu tập theo các tiêu chí khác nhau.

Có tổng cộng 54 bộ sưu tập về từng dân tộc như: về người Thái, người Hmông, người Gia Rai... Cũng có các sưu tập về y phục, trang sức, nông cụ, ngư cụ, vũ khí, đồ gia dụng, nhạc cụ... Ngoài ra, còn có các bộ sưu tập riêng về các hiện vật liên quan đến tôn giáo, lễ hội, nghi thức cưới, đám tang và nhiều hoạt động tâm linh, xã hội khác. Dựa trên cơ sở này, Bảo tàng đã tổ chức trưng bày và xuất bản sách ảnh theo nhiều dạng thức sưu tập khác nhau, hữu ích và thú vị đối với mọi đối tượng và trình độ học vấn.

Bảo tàng dân tộc học đã có nhiều đổi mới để thu hút nhiều khách hơn

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã triển khai theo nhiều thay đổi thay đổi về thiết kế mới phù hợp với sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật. Đầu tiên là quan niệm thiết kế Bảo tàng dành cho tất cả mọi người. Quan niệm này được thể hiện trong cả kiến trúc và kỹ thuật trưng bày. Bảo tàng có lối đi riêng, phù hợp cho người khuyết tật phải di chuyển bằng xe đẩy, cũng như có thang máy để họ lên xem tầng hai. Có các bậc lên xuống được thiết kế với tay vịn phù hợp cho người già yếu.

Trong trưng bày, kế thừa kinh nghiệm của nhiều bảo tàng trên thế giới, Bảo tàng đã chọn chữ viết thường cho tất cả các bài viết để người xem ở mọi lứa tuổi có thể đọc dễ dàng và không mỏi mắt. Các tấm pa nô được treo ở tầm cao tính toán phù hợp với mọi lứa tuổi, đặc biệt là thiếu nhi. Phần trưng bày có hiện vật, ảnh, bài viết, băng hình, các tư liệu tham khảo, mà người xem tuỳ theo trình độ và nhu cầu có thể khai thác nhiều hay ít.

Bảo tàng chọn hiện vật làm trung tâm bởi chúng phản ánh những hoạt động hàng ngày của nhân dân các dân tộc. Do đó, quan điểm xuyên suốt là: trang trí thật đơn giản, không cầu kỳ, để người xem có thể cảm nhận nhiều nhất cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của mỗi hiện vật, rất gần gũi, đời thường. Mục tiêu không phải là thể hiện tranh minh hoạ. Nếu cần minh chứng cho một số hoạt động, Bảo tàng dùng ảnh hoặc băng hình phản ánh cuộc sống thực của các dân tộc.

Bảo tàng không sử dụng tranh minh họa, mà bằng ảnh hoặc video thực tế
- Josh

Phần trưng bày thường xuyên của Bảo tàng chỉ trưng bày một số lượng hạn chế hiện vật, gần 700 hiện vật và 280 ảnh. Quan điểm chủ đạo là không tham dự quá nhiều hiện vật vào các tủ trưng bày, để tập trung, tránh cảm giác thừa ứ hoặc khó tiếp cận.

Phương pháp bố trí nội dung trong trưng bày của Bảo tàng là sự kết hợp giữa cộng đồng ngôn ngữ và vùng lãnh thổ. Hầu hết các hiện vật trưng bày là hiện vật gốc, được lựa chọn và chủ yếu phô bày trong 97 tủ kính lớn nhỏ khác nhau: có loại tủ 1 mặt, có loại 4 mặt, có tủ chứa nhiều hiện vật, có tủ chỉ đặt 1 hoặc vài ba hiện vật. Trong số đó, hơn 50 tủ có bài viết giới thiệu kèm theo. Mỗi hiện vật đều có phụ đề ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thời cho biết dân tộc và xứ sở sản sinh ra nó. Bảo tàng cũng sử dụng manơcanh, bản đồ, biểu đồ, sách cứng, ảnh, phim video, băng âm thanh, một số mô hình và 33 pa nô trong việc trưng bày. Mặc dù diện tích không lớn, nhưng trong nhà vẫn có một số điểm nhấn được trưng bày theo hình thức tái tạo về một tập tục hay một nét văn hoá nào đó. Người xem có thể hiểu được nội dung tái tạo không chỉ thông qua hệ thống hiện vật, mà còn thông qua phim video.

Bảo tàng chủ trương tăng cường bổ sung chú thích để phục vụ người xem. Hơn 100 bài viết trên panô và gắn với tủ kính hoặc với tái tạo đều cố gắng cung cấp những thông tin cần thiết và ảnh minh hoạ, nhiều pa nô có cả bản đồ. Tuy nhiên, do hạn chế về diện tích nên phải viết dưới dạng ngắn gọn và cô đọng. Với mục đích phục vụ cả du khách quốc tế, các bài viết đó cũng như các phụ đề của hiện vật không chỉ sử dụng tiếng Việt, mà còn in bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Vì vậy, người xem vẫn có thể hiểu rõ về các phần, các tủ, các hiện vật trưng bày mà không cần sự hỗ trợ của người thông dịch.

Bảo tàng đã tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật hiện đại trong phương pháp thể hiện trưng bày, bằng cách sử dụng ánh sáng và đèn chuyên dụng để làm nổi bật vẻ đẹp của từng hiện vật hoặc bộ phận của hiện vật, từ đó thu hút sự chú ý của người quan sát. Hiện nay, Bảo tàng đã lựa chọn phương án thông khí cho toàn bộ khu trưng bày. Mỗi tủ kính đều được trang bị hệ thống thông khí để đảm bảo sự bền vững của hiện vật mà không bị ảnh hưởng bởi mốc.

Ở khu vực ngoài trời, do diện tích hạn chế, Bảo tàng chỉ có thể trưng bày 9 công trình kiến trúc dân gian và một số hiện vật lớn, bao gồm nhà rông của người Ba Na, nhà sàn dài của người Ê Đê, nhà sàn của người Tày, nhà nửa sàn nửa đất của người Dao, nhà trệt lợp ván pơmu của người Hmông, nhà ngói của người Việt, nhà trệt của người Chăm, nhà trình tường của người Hà Nhì, và nhà mồ của người Gia Rai. Các công trình kiến trúc dân gian này được xen kẽ bởi cây xanh và các lối đi ngoằn ngoèo, cùng với một con suối uốn khúc chảy suốt cả 4 mùa, và có cầu bắc nối hai bờ. Các trưng bày ở phần này đang dần dần được thực hiện.

Do diện tích hạn chế, Bảo tàng chỉ có thể trưng bày 9 công trình kiến trúc dân gian và một số hiện vật lớn
- Josh

Khu vực bên trong bao gồm các khối nhà trưng bày, cơ sở nghiên cứu, thư viện, và hệ thống kho bảo quản. Phần trưng bày trong nhà chiếm trọn tòa nhà 2 tầng có dáng mô phỏng hình chiếc trống đồng. Các khối nhà liên kết với nhau, mỗi gian trưng bày của từng tộc người thể hiện việc trưng bày hiện vật theo lối kể chuyện. Câu chuyện được liên kết chặt chẽ, xuyên suốt với nhau thông qua nhóm hiện vật, luôn thay đổi để thỏa mãn nhu cầu khác nhau của người xem. Mỗi gian trưng bày là một câu chuyện lớn, phản ánh cuộc sống đa dạng của đồng bào các dân tộc Việt Nam.

Khách tham quan có thể khám phá các hiện vật được trưng bày tại khu vực thường xuyên, khu vực chuyên đề, khu vực trưng bày di động và khu vực ngoài trời. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng là một địa điểm dã ngoại thú vị cho các gia đình có trẻ nhỏ vào cuối tuần. Khu vực trưng bày ngoài trời với các mẫu nhà đặc trưng của mỗi dân tộc thực sự là một nguồn tài nguyên sống động cho việc học tập và nghiên cứu của học sinh cũng như các nhà nghiên cứu, những người muốn tìm hiểu về phong tục, tập quán của các dân tộc.

Đặc biệt, bảo tàng thường xuyên tổ chức các chương trình biểu diễn múa rối nước đặc sắc của các đoàn rối Miền Bắc. Du khách không chỉ được thưởng thức múa rối mà còn có cơ hội giao lưu với các nghệ nhân, thậm chí được tham gia tự tay điều khiển con rối dưới nước - một trải nghiệm thú vị. Những lớp học thủ công, thêu vải thường xuyên được tổ chức vào các dịp hè để giúp trẻ vừa vui chơi giải trí vừa học các kỹ năng thêu cơ bản.

Bên cạnh đó, khách tham quan cũng có cơ hội ghé thăm và mua các sản phẩm lưu niệm tại các gian hàng: ấn phẩm, băng đĩa, và đồ lưu niệm ngay tại cổng chính của Bảo tàng.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam mở cửa đón khách tham quan vào tất cả các ngày trong tuần, trừ ngày thứ Hai. Với các hoạt động phong phú và đa dạng, đây là địa điểm lý tưởng cho du khách muốn nghỉ ngơi, thư giãn, tận hưởng nghệ thuật và khám phá văn hóa Việt Nam. Bảo tàng cung cấp một trải nghiệm thú vị cho ngày nghỉ cuối tuần của các gia đình.

Thuyết minh về lịch sử hình thành và quá trình hoạt động của bảo tàng

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được thành lập theo quyết định của thủ tướng chính phủ ngày 24 tháng 10 năm 1995 và chính thức khánh thành vào ngày 12 tháng 11 năm 1997, sau hai năm xây dựng. Kiến trúc sư Hà Đức Lịnh đã thiết kế toàn bộ kiến trúc của Bảo tàng, trong khi phần nội thất được thiết kế bởi kiến trúc sư người Pháp Véronique Dollfus. Bảo tàng bao gồm hai khu vực chính: khu vực trong nhà và ngoài trời. Khu vực trong nhà bao gồm các khối nhà trưng bày, cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường, v.v. Diện tích tổng cộng của khu vực này là 2.480m2, trong đó 750 m2 được dành cho kho bảo quản hiện vật. Khu trưng bày ngoài trời đang tiếp tục được hoàn thiện.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nổi bật với hệ thống sưu tập hiện vật phong phú, có tầm cỡ khu vực và cả quốc tế. Trong những năm qua, bảo tàng đã thực hiện nhiều hoạt động sưu tầm hiện vật và phổ biến các giá trị văn hóa vật thể – phi vật thể của các dân tộc Việt Nam không chỉ thông qua trưng bày tại bảo tàng mà còn qua các hoạt động chuyên đề và trình diễn tại nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Bỉ, Áo.

Điểm đặc trưng của BTDTH

Hiện nay, phần trưng bày trong nhà chiếm trọn toà nhà 2 tầng có dáng mô phỏng hình trống đồng, biểu tượng chung của nền văn minh Việt Nam và nhiều nước khác trong khu vực. Một chiếc cầu đá granit dẫn vào toà nhà tạo cảm giác như đang bước lên căn nhà sàn phổ biến ở nhiều vùng. Mặt nền sảnh lớn của toà nhà được trang trí bằng đá granit với biểu trưng theo hình thể của Tổ quốc có đất liền và biển cả.

Hiện vật của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam không chỉ là những cổ vật đắt tiền, mà chủ yếu bao gồm nhiều thứ rất bình thường trong đời sống hàng ngày của người dân như con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái tẩu, tấm chiếu, v.v. Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hoá vật thể và phi vật thể của cộng đồng dân cư, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và sáng tạo văn hoá của họ.

Bảo tàng có một sưu tập hiện vật rất phong phú, có thể hình thành được nhiều bộ sưu tập theo các tiêu chí khác nhau, bao gồm 54 bộ sưu tập về từng dân tộc như về người Thái, người Hmông, người Gia Rai, và phân chia theo công dụng, gồm các sưu tập về y phục, đồ trang sức, nông cụ, ngư cụ, vũ khí, đồ gia dụng, nhạc cụ. Ngoài ra, bảo tàng còn có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo, tín ngưỡng, cưới xin, ma chay và nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác.

Nội dung trưng bày trong bảo tàng

Trưng bày trong nhà

Phần lớn diện tích trong nhà được bố trí trưng bày thường xuyên, bên cạnh đó có dành riêng một không gian để tổ chức các trưng bày nhất thời theo chuyên đề. Hiện tại, trưng bày thường xuyên trong nhà được bố trí như sau:

Tầng 1 trưng bày 2 phần chính:

  • Giới thiệu chung các dân tộc Việt Nam
  • Giới thiệu các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, bao gồm: Việt (Kinh), Mường, Thổ, Chứt.

Tầng 2 chia thành các phần:

  • Các dân tộc Chăm, Hoa, Khơme
  • Ngữ hệ Nam Đảo ở miền núi: giới thiệu các dân tộc Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Chu Ru
  • Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme ở miền núi: giới thiệu 5 dân tộc ở miền Bắc (Khơ Mú, Xinh Mun, Mảng, Kháng, Ơ Đu) và 15 dân tộc ở miền Trung – Tây Nguyên.
  • Nhóm ngôn ngữ Hán – Tạng: giới thiệu các dân tộc Cống, Sán Dìu, Ngái, Lô Lô, Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Si La
  • Nhóm Hmông – Dao: giới thiệu các dân tộc Hmông, Dao, Pà Thẻn.
  • Nhóm Tày Thái – Kađai: giới thiệu các dân tộc Tày, Nùng, Sán Chay, Thái, Bố Y

Trưng bày ngoài trời

Đối với khu ngoài trời, do đất hẹp nên Bảo tàng chỉ có thể dựng 9 công trình kiến trúc dân gian cùng một số hiện vật lớn như:

  • Nhà rông của người Ba Na
  • Nhà sàn dài của người Ê Đê
  • Nhà sàn của người Tày
  • Nhà nửa sàn nửa đất của người Dao
  • Nhà trệt lợp ván pơmu của người Hmông
  • Nhà ngói của người Việt
  • Nhà trệt của người Chăm
  • Nhà trình tường của người Hà Nhì
  • Nhà mồ của người Gia Rai.

Trong không gian giữa các công trình kiến trúc dân gian là sự xen kẽ của các loại cây xanh, những lối đi uốn khúc và cả con suối chảy suốt bốn mùa, với cầu bắc nối đôi bờ. Các hoạt động trưng bày ở khu vực này đang từng bước được triển khai.

Câu chuyện đặc biệt về những hiện vật của người Pà Thẻn tại BTDTH

Những gì thuộc về đời thường thì phải trả lại đời thường
- Người Pà Thẻn

Người Pà Thẻn mặc trang phục đỏ trong mọi hoạt động là hình ảnh giả tạo, được tạo ra bởi những nhà nhiếp ảnh, nhà nghiên cứu của ta muốn nhìn họ với góc nhìn quen thuộc nhưng bất ổn. Những gì thuộc sinh hoạt đời thường thì phải trả về đời thường, qua đó sẽ cho ta cái nhìn và nhận thức mới về người Pà Thẻn thấm đậm hơn.

Thưa ông, lý do gì khiến Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (bảo tàng) chọn trưng bày triển lãm ảnh “Người Pà Thẻn” do chỉ một nhà nhiếp ảnh người Pháp (Sebastien Laval) thực hiện?

Đây là dự án hợp tác của bảo tàng với Hiệp hội các dân tộc Á châu (thành lập đầu năm 2006, là nơi tập hợp, thu hút những nhà nghiên cứu, những nghệ sĩ yêu văn hóa các dân tộc châu Á, đặc biệt là Việt Nam). Dự án “Tiếng nói các dân tộc Việt Nam” của Hiệp hội với mục đích tái hiện khách quan phong tục truyền thống và cuộc sống hiện tại của các dân tộc thông qua ngôn ngữ hình ảnh với những hình ảnh chuyên nghiệp, chất lượng cao, đặc biệt giúp công chúng hiểu về các dân tộc ấy qua “tiếng nói” của chính họ.

Hiệp hội chọn Pà Thẻn vì dân số ước tính chỉ 4300 người, cuộc sống lại có nhiều thay đổi đáng kể, từ du canh du cư thành định cư. Nguyện vọng của họ phù hợp với tiêu chí hoạt động của bảo tàng, Sebastien Laval là người gắn bó và hiểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, nên tôi đã đưa triển lãm ảnh về đây.

Trong ý niệm của công chúng lâu nay, người Pà Thẻn là hình ảnh những người phụ nữ trong trang phục dân tộc đỏ (mặc váy đỏ, khăn đội đầu màu đỏ), hay hình ảnh phụ nữ thổi sáo…nhưng qua triển lãm này thì sao?

Người Pà Thẻn mặc trang phục đỏ trong mọi hoạt động là hình ảnh giả tạo, được tạo ra bởi những nhà nhiếp ảnh, nhà nghiên cứu của ta muốn nhìn họ với góc nhìn quen thuộc nhưng bất ổn. Người Pà Thẻn cứ thấy khách đến, chuẩn bị chụp ảnh là họ thay quần áo. Khi Sebastien Laval đưa đến đây 100 bức ảnh, tôi đã đề nghị anh bỏ đi những bức chụp như những người khác. Vẫn có vài tấm họ mặc trang phục đỏ để chụp ảnh, còn những gì thuộc sinh hoạt đời thường thì phải trả về đời thường ấy, họ đi nương, đi gùi, ở nhà nấu bếp, chăm lợn gà… thế nào, bình thường họ ăn mặc ra sao? Qua đó sẽ cho ta cái nhìn và nhận thức mới về người Pà Thẻn thấm đậm hơn, sẽ hiểu cuộc sống của họ hơn.

Có đáng tiếc không khi trong cái nhìn chân thực ấy, công chúng sẽ thấy cả những góc đã bị “hiện đại hóa” của người Pà Thẻn?

Họ vẫn có nhu cầu giữ bản sắc riêng, nhưng thực tế cuộc sống của họ phải thay đổi. Cũng như chúng ta, trang phục truyền thống chỉ còn mặc trong những dịp lễ hội, còn lại thì chúng ta đã Âu hóa, người Pà Thẻn cũng như vậy. Đó là câu chuyện toàn cầu hóa, người Pà Thẻn ở nơi xa xôi hẻo lánh như thế cũng phải hội nhập. Cuộc sống của họ chịu nhiều thách thức, ngoài thách thức vượt sự nghèo khổ thì còn thách thức phải học theo cái gì, giữ lại cái gì là bản sắc?

Cách đây không lâu, một ngẫu nhiên thú vị xảy ra với tôi. Một cô gái trẻ 22 tuổi, người Pà Thẻn là Phù Thị Thiên (công tác tại trung tâm văn hóa huyện Quang Bình, Hà Giang) tâm huyết với văn hóa dân tộc mình, gửi thư cho giám đốc bảo tàng, bày tỏ băn khoăn rằng cô đến đây thấy bảo tàng trưng bày về người Pà Thẻn quá ít, không đầy đủ. Tôi đã ngỡ ngàng vì nhu cầu mạnh mẽ và “đúng lúc” như vậy.

Tôi đã đề nghị Hiệp hội các dân tộc Á châu mời Thiên cùng những người bạn của cô đến đây dự khai mạc, để những người Kinh chúng ta có dịp tiếp xúc trực tiếp và hiểu hơn về những suy nghĩ của họ. Vậy mà có người còn không tin họ là người “Pà Thẻn xịn”, cũng do trong nhiều sự kiện ta đã đánh tráo bằng người Kinh mặc áo dân tộc. (Cũng nói thêm là nhiều khách đến thăm đề nghị bảo tàng của tôi để những người thuyết minh mặc trang phục dân tộc sẽ ấn tượng hơn, nhưng đó không phải là sứ mệnh của bảo tàng. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là sự trung thực, “quần áo của ai thì người ấy mặc”).

Liệu những triển lãm ảnh như thế này có góp phần, dù nhỏ bé, giúp các dân tộc như Pà Thẻn nâng cấp cuộc sống, và bảo tồn được bản sắc riêng của họ không, thưa ông?

Chính sự có mặt ở đây sẽ giúp những cô gái Pà Thẻn có những nhận thức mới mẻ. Họ sẽ hiểu những giá trị di sản mà họ đang nắm giữ được xã hội tôn trọng ra sao? Tự họ sẽ thấy tự hào, thấy trách nhiệm, và sẽ quyết định họ muốn bảo tồn di sản của họ như thế nào? Đóng góp của bảo tàng chúng tôi là giúp họ về nhận thức, để những người trẻ như họ sẽ có suy nghĩ về chiến lược lâu dài.

Bên cạnh đó, cũng có sự giúp đỡ kinh tế trực tiếp ngay. Tôi đã là cầu nối để Phù Thị Thiên gặp gỡ ông Trần Đoàn Lâm, giám đốc NXB Thế giới, đồng thời là Chủ tịch quỹ phát triển cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam – Đan Mạch. Chính Thiên sẽ làm dự án đề xuất để quỹ trợ giúp việc bảo tồn và phát triển một mảng văn hóa dân gian, hay một nghề cổ truyền của dân tộc cô. Tôi tin với sự mạnh mẽ, năng động, Thiên và những người như cô sẽ làm được.

Có rất nhiều cách để gắn kết cộng đồng với các hoạt động phát triển. Sắp tới, bảo tàng sẽ có một nhóm đi lên huyện Na Hang, Tuyên Quang triển khai dự án “Photo voice”, trao máy ảnh cho những người phụ nữ dệt dân tộc Tày, giúp họ có nhận thức mới về di sản văn hóa của họ liên quan đến nghề dệt, và việc phục hồi nghề dệt như thế nào? Hay Cục Di sản Văn hóa và Bảo tàng sẽ phối hợp triển khai dự án do quỹ Sida tài trợ vào đầu năm 2007 giúp phục hồi nghề dệt của một nhóm người Tày ở huyện Chiêm Hóa.

Với những hoạt động này, chúng tôi cố gắng tạo ra hướng bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn các nghề thủ công gắn với việc phát triển kinh tế. Từ góc nhìn của những người làm bảo tàng, quan niệm và kinh nghiệm của tôi là hãy làm những việc nhỏ nhưng thiết thực, mang lại ích lợi cho chính cộng đồng những dân tộc thiểu số đang nắm giữ văn hóa. Như thế sẽ có hiệu quả, có tác động sâu sắc, rồi từ đó sẽ lan ra, sẽ nhân rộng .

Ý tưởng Photo voice rất thú vị, sẽ giúp công chúng có cái nhìn chân thật hơn về các dân tộc, và chính bản thân người các dân tộc cũng “nhìn lại chính mình”. Ý tưởng này bắt đầu từ đâu, và đã có ví dụ này về sự thành công?

Photo voice là phương pháp mới được áp dụng đầu tiên ở Mỹ, sau đó đã được ứng dụng rất thành công ở Vân Nam (Trung Quốc). Phương pháp này vào Việt Nam lần đầu tiên thông qua dự án của chị Dương Bích Hạnh, nghiên cứu sinh đang học ở Mỹ, do Bảo tàng và quỹ Toyota tài trợ. Dự án trao máy ảnh cho các em gái người Mông ở Sapa để các em chụp du lịch và cuộc sống dưới góc nhìn của các em, thể hiện mơ ước của các em. Dự án đã rất thành công, đã có triển lãm ở Bảo tàng, đã xuất bản thành cuốn sách “Sapa qua con mắt của các em gái Mông”.

Cách đây mấy năm, Bảo tàng đã thực hiện dự án trao máy ảnh cho những người thợ dệt dân tộc Lào (huyện Điện Biên Đông, nay thuộc tỉnh Điện Biên). Người của Bảo tàng lên trao đổi với họ, hỏi họ về ý nghĩa của từng bức ảnh mà họ chọn chụp. Từ những trao đổi giao lưu thì tự họ nhận thức ra giá trị của nghề dệt, ý nghĩa và những câu chuyện truyền thuyết xung quanh các hoa văn, giá trị của việc dùng các màu nhuộm tự nhiên…

Bảo tàng đã đứng ra tổ chức hai cuộc triển lãm ảnh của họ chụp, một ở Bảo tàng, một ở ngay trong bản của họ. Sau đó một tháng, gần chục đoàn khách du lịch đến thăm làng (trong khi trước đó chưa có lấy một người nước ngoài bước chân đến đó), rồi làng trở thành điểm đến cho các tour du lịch. Vậy là người dân có những nhận thức mới, họ phục hồi sản xuất và tạo ra những sản phẩm mới để bán, làng bản họ giữ vệ sinh hơn, cuộc sống của họ cũng có những thay đổi thích hợp để đón khách tốt hơn nữa. Chính những điều này đã thay đổi cuộc sống của họ.

Năm ngoái, lần đầu tiên những người thợ dệt – vốn luôn sống khép mình trong bản làng – biết tự mình mang sản phẩm xuống Hà Nội để tham gia hội chợ triển lãm Craft Link, bán ngay ở sân Bảo tàng. Tôi cũng đã bàn với Craft Link, xin UNESCO ở Paris kinh phí để mở những lớp học giúp cho nhóm đổi mới mẫu mã, thích ứng với cuộc sống mới mà vẫn giữ những giá trị, những hoa văn truyền thống.

Cách làm đó của Bảo tàng đã được nhân rộng ra ở nhiều dự án khác, như dự án với làng gò đồng Đại Bái, hay dự án trao máy ảnh cho những người dân phố cổ Hà Nội.

Vậy sau triển lãm “Người Pà Thẻn”, ông có nghĩ cuộc sống của họ sẽ thay đổi thế nào không?

Tôi cũng sẽ bàn với chị Nguyễn Nga, Chủ tịch Hiệp hội các dân tộc Á Châu để đưa triển lãm này lên trưng bày ở Hà Giang, ở ngay làng Pà Thẻn. Tôi cũng được biết, Hiệp hội đã có dự án xây dựng một nhà trưng bày ở giữa làng của họ. Đây không chỉ là nơi treo những bức ảnh, mà còn là nơi để họ gặp nhau cho những sinh hoạt tập thể, nơi khách du lịch có thể dừng chân và ngủ qua đêm, gặp gỡ giao lưu với người bản xứ. Hội sẽ tìm kinh phí hỗ trợ để chính họ dựng lên ngôi nhà như họ mong muốn. Tôi nghĩ ý tưởng này nằm trong tầm tay, bởi rất phù hợp với mục tiêu của quỹ Việt Nam – Đan Mạch.

Chính những triển lãm như thế này là sự khởi đầu cho nhiều thay đổi về tư duy, nhận thức, sẽ mở ra một chân trời mới cho chính cộng đồng.

Theo linhna